Ngay từ giai đoạn xây dựng và ban hành Nghị quyết số 258/2025/QH15, các cơ quan soạn thảo đã xác định rõ nguyên tắc: Các cơ chế, chính sách đặc thù, mang tính thử nghiệm tại Nghị quyết này sẽ được xem xét, kế thừa khi sửa đổi, bổ sung Luật Thủ đô. Do đó, việc dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) luật hóa việc chỉ lập một bản quy hoạch duy nhất chính là hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược, tạo tính liền mạch trong tư duy lập pháp.
Dự thảo quy định rõ, trên địa bàn Thành phố chỉ lập một Quy hoạch tổng thể Thủ đô trên cơ sở tích hợp, lồng ghép và thay thế cho Quy hoạch Thủ đô và Quy hoạch chung Thủ đô trước đây. Việc này sẽ giải quyết triệt để tình trạng chồng chéo, thiếu đồng bộ giữa chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức không gian đã tồn tại trong các giai đoạn trước, đồng thời xác lập vai trò lâu dài trong hệ thống quy hoạch và pháp luật của thành phố.
Thực tế, bản Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm mà Thành phố đang triển khai tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của các bộ, ngành Trung ương, chuyên gia, nhà khoa học và cộng đồng dân cư chính là "sản phẩm" được lập ra theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 258/2025/QH15 của Quốc hội và Nghị quyết số 84/2025/NQ-HĐND của HĐND thành phố. Việc dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) chính thức luật hóa quy định này sẽ khẳng định địa vị pháp lý cao nhất của bản quy hoạch, tạo cơ sở pháp lý thống nhất để kiến tạo động lực phát triển đột phá cho Thủ đô ngay khi được phê duyệt.
Sự đồng bộ giữa Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm và Luật Thủ đô được kỳ vọng tạo ra bước chuyển mang tính đột phá về phân bổ dân cư và tổ chức không gian, tác động trực tiếp đến việc giảm áp lực nội đô thông qua 3 yếu tố chiến lược:
Thứ nhất, điều tiết phân bố dân cư thông qua việc dịch chuyển các cực động lực phát triển.
Nhiều năm qua, nỗ lực giãn dân nội đô gặp khó khăn do khu vực trung tâm vẫn là nơi tập trung các thiết chế hạ tầng xã hội và cơ hội việc làm. Bản Quy hoạch lần này định hình cấu trúc không gian "đa cực - đa trung tâm". Hà Nội quy hoạch rõ các cực phát triển ngoại vi. Đồng thời, dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) cung cấp khung pháp lý vượt trội để áp dụng các chính sách ưu đãi đầu tư, chuyển giao công nghệ vào các khu vực này. Khi các đô thị vệ tinh được đầu tư đồng bộ về hạ tầng xã hội cấp vùng (Tổ hợp y tế chuyên sâu, Khu đô thị đại học), nơi đây sẽ trở thành các đối trọng kinh tế, tự động tạo ra động lực dịch chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao và dân cư ra khỏi nội đô để sinh sống, làm việc.
Thứ hai, rút ngắn thời gian tiếp cận và tối ưu hóa liên kết không gian bằng mạng lưới giao thông đa tầng gắn với mô hình TOD.
Cụ thể, sự dịch chuyển dân cư đòi hỏi phải có hệ thống giao thông công cộng năng lực cao, do đó, quy hoạch đã thiết lập hệ thống khung hạ tầng giao thông và kế hoạch triển khai, bao gồm: Mạng lưới đường sắt đô thị, đường sắt liên vùng và các tuyến hướng tâm, vành đai... Để bảo đảm nguồn lực thực thi, dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) cho phép thành phố áp dụng các chỉ tiêu quy hoạch nén, khai thác không gian ngầm, tăng hệ số sử dụng đất tại các khu vực lân cận các nhà ga nhằm thu hồi giá trị gia tăng từ đất đai, cơ chế này bảo đảm tính khả thi trong việc kết nối hạ tầng giữa nội đô và các đô thị vệ tinh, nâng cao khả năng tiếp cận và bảo đảm sự đồng đều về chất lượng dịch vụ đô thị.
Thứ ba, tạo dư địa không gian để tái thiết toàn diện và nâng cao chất lượng môi trường khu vực nội đô lịch sử.
Mục tiêu trọng tâm của chiến lược phát triển mạng lưới đô thị vệ tinh là giảm áp lực lên ngưỡng chịu tải hạ tầng của nội đô. Khi áp lực gia tăng dân số cơ học được kiểm soát, các cơ sở công nghiệp, bệnh viện, trường đại học được di dời ra các đô thị vệ tinh, thành phố sẽ có dư địa về quỹ đất để triển khai chiến lược tái thiết, tái cấu trúc đô thị.
Theo quy định của dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi), quỹ đất sau di dời sẽ được ưu tiên tuyệt đối để phát triển các không gian công cộng, quảng trường, hệ thống bãi đỗ xe ngầm, công viên cây xanh và khôi phục hệ sinh thái mặt nước (như sông: Tô Lịch, Kim Ngưu...), qua đó, nâng cao trực tiếp chất lượng sống của cư dân nội thị.
Như vậy, nếu Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm là công cụ định hướng và tổ chức không gian thì Luật Thủ đô chính là khung pháp lý thực thi để biến các định hướng đó thành hiện thực.
Việc gắn kết quy hoạch Thủ đô với cấu trúc Vùng và phát triển đô thị vệ tinh là giải pháp căn cơ để vừa tạo động lực tăng trưởng mới, vừa nâng cao chất lượng không gian sống khu vực nội đô theo hướng văn hiến, xanh, sạch.